GIÁO DỤC CON NGƯỜI TOÀN DIỆN

Không có kế hoạch nào lớn lao, quan trọng và cao quí cho bằng kế hoạch trồng người. Quản Tử đã nói lên ý nghĩa đó như sau: “Nhất niên chi kế mạc như thọ cốc; thập niên chi kế mạc như thọ mộc; chung thân chi kế mạc như thọ nhân” : Kế hoạch một năm không gì bằng trồng lúa; kế hoạch mười năm không gì bằng trồng cây; kế hoạch trọn đời không gì bằng trồng người.

Thư chung của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam 2007 về đề tài Giáo dục là lời cảnh báo cách riêng cho vấn đề giáo dục Kitô giáo, nhưng đó cũng còn là tiếng chuông cảnh tỉnh mọi người về việc giáo dục trong xã hội Việt Nam hiện thời. Đó là điều mà mỗi người chúng ta cùng suy tư và nhìn lại những cách thức và phương hướng mình đã được giáo dục, cũng như hiện đang là người giáo dục một cách nào đó dưới nhiều hình thức.

  1. Vài định nghĩa

Giáo dục, đào tạo, huấn luyện, đều là những từ ngữ nhằm vào việc làm tăng triển, mở rộng và nâng cao toàn bộ đời sống con người về thể chất, tri thức và tâm linh. Có vài định nghĩa trong các Tự Điển Việt Nam như sau:

Giáo dục là “nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội ”[1].

Đào tạo là “quá trình chuyển giao có hệ thống, có phương pháp về những kinh nghiệm, những tri thức, những kỹ năng… đồng thời bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cần thiết và chuẩn bị tâm thế cho người học đi vào cuộc sống lao động tự lập, góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước… Ngày nay, đào tạo… đang dần tiến tới hợp tác song phương với người học để giúp họ chủ động, tích cực, tự giác chiếm lĩnh lấy tri thức, tự trang bị hành trang nghề nghiệp, chuyên môn”[2].

Huấn luyện, nói chung là giảng dạy, hướng dẫn luyện tập, hay chế tạo, nắn đúc, gầy dựng nên[3].

Mỗi định nghĩa đều liên quan và bổ túc cho nhau trong việc giáo dục, nhưng chưa thể là toàn bích khi xét về tính toàn diện của đời sống làm người. Điều quan trọng là cho ta thấy được đường hướng và vai trò của giáo dục, là nhằm giúp cho từng người phát huy hết mức khả năng thiên phú của mình, với tính cách đạo đức, nhằm góp phần lợi ích tối đa cho xã hội loài người.

Khi định nghĩa về giáo dục, Tự Điển Larousse cho thấy, đó là hoạt động đào tạo, huấn luyện về tri thức song song với việc thực hành đạo đức[4].

Thiết tưởng điều quan trọng trước tiên, việc giáo dục phải giúp mỗi người nhận ra sự hiện diện cao quí của họ trong cuộc sống này. Điều làm nên họ không phải là những thành tích, thành tựu, hay những công trình bên ngoài, mà chính họ mới là sự thành tựu và công trình sáng giá nhất, nghĩa là trở thành điều mà họ phải trở thành. Từ đó họ mới quí trọng việc giáo dục từ mọi phía, và coi đó là điều thiết yếu để làm nên cuộc sống chân thực của mình. Chính họ phải trở nên một công trình riêng biệt, độc đáo, góp phần vào đời sống nhân loại, nhưng vẫn nằm trong mối tương tác và hòa hợp chung, không chỉ giữa con người với nhau, mà còn đồng thời với Trời, đất, vạn vật. Chính trong tương quan bao hàm đó mà người ta thấy được ý nghĩa sâu xa của đời mình một cách thực tiễn và thiêng liêng. Nhờ đó, việc giáo dục giúp họ đáp ứng cũng như hoàn thành một định hướng siêu việt về chính mình. Đó cũng chính là sứ mệnh cao cả của mỗi con người được sinh ra trong cuộc sống này.

Nhờ giáo dục, con người hấp thụ những tinh hoa của nhân loại cho bản thân mình, và rồi tiếp tục sáng tạo làm thăng tiến bản thân, nhờ khả năng suy luận, phân tích và tổng hợp, dựa trên nền tảng của những điều mình đã tiếp thu, đã rèn luyện, để trở thành con người tiến bộ: một sự tiến bộ đúng nghĩa, quân bình, toàn diện trong mọi chiều kích của đời sống làm người: thể chất – tri thức – tinh thần – tâm linh. Các yếu tố đó liên kết hỗ tương làm một với nhau không thể tách rời, làm thành toàn bộ thống nhất và duy nhất của đời sống con người. Chủ trương giáo dục nào chỉ quan tâm đến sự thành toàn về một hai phương diện nào đó thôi, đều là cắt xén, làm hư hại, hoặc hủy hoại một phần sự sống của con người. Những hình thức như thế đều là phản tiến bộ.

  1. Nhìn vào thực tế.

Thực tế, cuộc sống hôm nay cho thấy phần lớn sinh viên – học sinh đều học hành với tính cách “đối phó”, hoặc chỉ lo cho mình có nhiều kiến thức, nhiều khả năng, nhưng không đi đôi với việc đào luyện tâm hồn và nhân cách của mình. Chính vì vậy, nhiều bạn bất chấp mọi “mánh mung” và gian dối để được mảnh bằng. Nhiều bạn trẻ chỉ quan tâm đến bề ngoài, chạy theo đủ mọi thứ “mốt”. Có nhiều bạn không chỉ chạy theo bất cứ mốt thời trang nào, mà còn chạy theo những mốt ăn chơi liều mạng, trác táng, kể cả những kiểu yêu cuồng sống vội, làm nên một cuộc sống thác loạn, gây tan tác cho bản thân, gia đình và xã hội. Còn phần đông những người lớn chỉ lao đầu vào cuộc sống kinh tế, và hầu như chỉ lo thăng tiến về thể chất và khả năng nghề nghiệp, để đạt tới lợi lộc và danh vọng càng cao càng tốt, coi đó như một bảo đảm hay đích điểm của đời sống hạnh phúc.

Tất cả những điều nói trên phải chăng là một phần lớn hậu quả của một lề lối giáo một chiều, “duy vật”, “duy thực dụng”, chỉ quan tâm đến lợi nhuận, hiệu năng và kinh tế, chỉ lo “bề mặt” mà mất đi “bề trong”. Tình trạng lệch lạc này làm hụt hẩng đời sống nội tâm, khiến mất tính cách đạo đức và phương hướng trong mọi hoạt động, là nguyên nhân tạo nên xáo trộn và hỗn loạn trong đời sống cá nhân, cũng như gây ra nhiều tiêu cực và tệ đoan trong xã hội.

Thật ra trong xã hội hôm nay, người ta vẫn luôn đặt ra vấn đề đạo đức, vẫn rêu rao đòi nêu cao phẩm chất đạo đức. Nhưng là “đạo đức” gì? Đạo đức như thế nào? Nội dung và ý nghĩa của từ ngữ đó ra sao và có đầy đủ không? Dựa trên nền tảng nào để nói hai chữ “đạo đức”? Phải chăng có nhiều thứ đạo đức, mỗi thứ đạo đức lại được quyết đoán theo một ý hệ, theo một chủ nghĩa, theo điều kiện và nhu cầu của thời đại. Nếu thế, sợ rằng “đạo đức” lại trở thành “đứt đạo”.

Cũng như sự mất thăng bằng trong cán cân mậu dịch tạo nên khủng hoảng kinh tế thị trường, thì sự mất quân bình trong cuộc sống đạo đức của con người cũng gây ra những khủng hoảng tinh thần như vậy. Những hậu quả kinh tế bên ngoài dù sao cũng dễ chấn chỉnh, khôi phục và tái tạo, nhưng những hậu quả tinh thần thường để lại những vết rạn nứt hay suy sụp sâu nặng, có khi suốt đời vẫn không thể sửa chữa, bồi đắp hay phục hồi.

Nhưng rồi trong đường hướng giáo dục ngược lại cũng đem đến những tai hại nhất thiết. Nếu chỉ quan tâm giáo dục về mặt thiêng liêng, đạo đức, mà thiếu đào tạo về mặt nhân bản, trí thức, thể chất, thì lại tạo nên những con người ngây ngô, lạc lỏng, mơ hồ, sống trong tưởng tượng chứ không sống trong thực tế, như thể người của một thế giới khác. Không hòa nhập với cuộc sống xã hội đang vươn lên từ mọi phương diện thì khác nào tự loại trừ mình khỏi thế giới loài người.

  1. Con người vừa là đối tượng vừa là chủ thể của giáo dục

Đường hướng giáo dục nào cũng phải để cho những người được giáo dục có cơ hội và điều kiện để thể hiện chính mình. Mọi hình thức áp đặt, nhồi nhét, nắn đúc, thúc ép, rập khuôn, đều là xúc phạm và gây tai hại, làm mất đi tính cách giáo dục. Vai trò của người giáo dục là giúp họ trở nên chính họ, chứ không trở nên giống mình. Không ai được quyền ép buộc người khác trở nên một loại người hay một kiểu người theo một thứ khuôn thước đã định sẵn, cho dù là cha mẹ. Chính vì thế mà R. Tagore đã xác định: “Mục đích của giáo dục là dạy cho con người biết quan cảm cái chân lý trong sự nhất trí hoàn toàn của nó”.

Trách nhiệm của những người giáo dục là giáo huấn, dạy dỗ, chỉ bảo, nhưng bằng phương cách trình bày, hướng dẫn, chỉ đường, chứ không bó buộc hay quyết định thay cho người thụ huấn. Điểm hay của người thầy là biết khơi dậy những khả năng tiềm ẩn đa dạng của mỗi người, đồng thời hỗ trợ và bổ túc những điều cần thiết, gợi ý những sáng kiến và đưa ra những phương pháp, cách thức, để mỗi người tự do lựa chọn và điều chỉnh cho phù hợp với khả năng và tính cách của mình. Eward Gibbon cho thấy rằng: “Mọi người đều hấp thụ được hai thứ giáo dục: một thứ do người khác tạo ra, còn một thứ quan trọng hơn nhiều là do chính mình tự tạo cho mình”.

Thật vậy, kết quả giáo dục, cuối cùng cũng là tùy thuộc ở người thụ huấn, là người giữ vai trò chính yếu trong việc ý thức chủ động và tích cực rèn luyện bản thân mình. Coi thường nguyên tắc tự đào luyện là phá ngầm tính kiên trì mai sau của mình. Thiếu nó, việc giáo dục trở thành mảnh đất hoang, hay giống như lò ấp trứng. Còn lò thì trứng còn tốt, ra khỏi lò chẳng biết ra sao. Việc giáo dục của gia đình hay học đường như lò ấp trứng là một hình thức giả tạo, trong đó đương sự sống, làm việc, học hành một cách chiếu lệ, trôi nổi theo dòng nước chảy. Một con người như thế khi vào đời sẽ bị chìm ngập trong những biến động. Để cho mọi cái dễ dàng lôi cuốn mình, thì mình không còn là mình nữa. Bởi vậy, “Giáo dục một người là đào luyện họ có thể đối đầu với mọi hoàn cảnh” (Ch. Rivet).

Vì thế, mọi công cuộc đào tạo hay giáo dục, cuối cùng là tự đào tạo, tự giáo dục từ những gì mình đã được khai mở. Mỗi người là một cá vị độc nhất, hoàn toàn có tự do và trách nhiệm về cuộc đời mình, không thể dựa dẫm hay nại vào người khác, nhưng biết khai sáng cho mình một lối đi, một tâm thế, một phương cách thích hợp để phát huy mọi tiềm lực và khả năng của mình cho một cuộc sống đầy ý nghĩa.

  1. Bản thân con người – trọng tâm của giáo dục

Vấn đề học hành ngày nay, phần nhiều người ta chỉ lo nhồi nhét cho thật nhiều kiến thức, nhắm vào bằng cấp, vào chức vụ và thành thục chuyên môn, chứ không nhằm vào con người. Tiếc thay mảnh bằng không phải là con người, và con người không phải là mảnh bằng. Sự nhập nhằng này khiến người ta ảo tưởng về mình, tạo nên biết bao sai lầm và tai hại. Khi việc giáo dục xa rời với trọng tâm là con người thì không còn là giáo dục nữa, không còn tạo nên “người thật” nữa, mà là bào chế ra những “người máy”, để càng ngày càng đạt mục tiêu cao hơn về chất lượng sản phẩm và năng suất lao động.

Mọi sự tốt đẹp đều triển nở từ đời sống tinh thần. Khi tinh thần đã trở nên nô lệ cho vật chất thì con người bị tha hóa. Mọi sự bắt đầu từ bên trong, khi bên trong bị manh động thì mọi cái bên ngoài trở nên hỗn loạn. Cuộc sống con người cao đẹp từ chính đời sống tinh thần của họ, nghĩa là trong chính tâm thế và phẩm cách của họ. Giá trị của một con người được xác định chính yếu từ đó. Mọi cái khác như tài năng, chức vụ, chuyên môn, thế giá xã hội chỉ là phụ thuộc.

Lịch sử cho thấy thế giới đầy những con người tài trí, nhưng tài trí ấy không nằm trong những tâm hồn cao đẹp thì sẽ phát sinh những Hitler của thời đại mới. Bởi vậy, giáo dục quan trọng nhất vẫn là nhằm đào luyện tâm hồn con người, là khơi lên chân lý của sự sống đích thật đang tiềm ẩn nơi họ. Trong ý nghĩa đó Galileo đã phát biểu mạnh mẽ rằng: “Anh không thể dạy một ai cái gì cả, anh chỉ có thể giúp họ tìm thấy điều ấy ở trong họ mà thôi”.

Sự góp phần lớn lao nhất cho đời sống nhân loại không phải là những công trình thế kỷ được xây dựng bằng bê-tông cốt thép, hay những phát minh khoa học lớn lao, mà chủ yếu là từ một đời sống thiện hảo của một con người. Những công trình tiến bộ đều có hai mặt của nó, có nhiều khi mặt tiêu cực và tính hủy diệt còn nhiều hơn bội phần về mặt tích cực và xây dựng. Không thể căn cứ vào đó mà xác định về sự văn minh tiến bộ đích thực. Tiến bộ rất cần thiết cho đời sống con người, nhưng phải được làm nên từ những con người thiện hảo. Phải là những con người thiện hảo mới thực sự đem lại lợi ích chân chính, bình an và hạnh phúc cho nhân loại.

Muốn thế, phải có sự góp phần lớn lao từ các tôn giáo. Xã hội nào thiếu sự hoạt động của các tôn giáo trong ngành giáo dục, thì khó lòng nói tới đạo đức và lành mạnh xã hội, và dễ gây suy thoái về phẩm chất đời sống làm người. Chỉ có tôn giáo mới giúp con người hướng thiện, hướng thượng, nhận ra cội nguồn vĩnh hằng để sống đúng căn tính của mình. Nhờ tôn giáo mà con người tìm ra đường ngay nẻo chính, tìm ra chân lý của lẽ sống làm người trong mối tương quan hợp nhất Thiên – Địa – Nhân.

Một con người mà không biết từ đâu mình đến, sinh ra để làm gì, đi về đâu, thì cuộc sống còn có ý nghĩa gì? Không tìm ra ý nghĩa và mục đích sau cùng của cuộc đời mình thì sự hiện hữu của mình còn có giá trị gì? Rèn luyện bản thân, sống ngay chính, dấn thân phục vụ, góp phần xây dựng xã hội, v.v…, có khi phải hy sinh chính bản thân mình để bảo vệ quê hương dân tộc, để rồi chẳng còn gì nữa sao? Hay chỉ còn lại tấm bia đá “nhớ ơn”, còn bản thân mình thì đi vào hư vô, chẳng còn hy vọng gì khác? Việc giáo dục không cần tôn giáo sẽ đưa con người tới đâu? Hay chỉ còn là vong thân, với cuộc đời đáng nôn mửa?

Đang khi đó, trải qua từ bao đời, triết lý sống của truyền thống dân tộc Việt Nam là một triết lý thấm nhuần tôn giáo và tín ngưỡng. Tinh thần tôn giáo đó không những nằm ngay trong bản sắc dân tộc, trong truyền thống văn hóa, trong việc giáo dục từ trong gia đình đến học đường, mà nằm ngay trong những phong tục tập quán và mọi sinh hoạt hằng ngày. Cũng từ đó toát lên cái nét đẹp tinh thần rất hài hòa, sinh động và thiêng liêng của người Việt.

  1. Triết lý truyền thống của dân tộc Việt[5]

       Triết lý Tam Tài

Triết lý Tam Tài trong khối Viễn Đông rất bàn bạc, với tính cách thực tại hơn là triết lý. Trung Hoa chỉ liệt kê tổng quát theo các hiện tượng: thiên văn, địa văn và nhân văn. Nhật Bản chỉ nói một cách chung chung, áp dụng vào nhân sinh mà thôi. Riêng Việt Nam từ hồi còn là Việt tộc, các Tiên Hiền đã nói về Tam Tài như những thế lực cấu tạo, bảo tồn và phát huy vạn vật. Thiên-Địa-Nhân được trình bày như ba căn cơ cho Thiên Đạo, Địa Đạo và Nhân Đạo. Nhờ đó, Việt tộc từ ngàn xưa đã xây dựng Chủ Đạo Nhân bản tâm linh, là truyền thống văn hóa của ta ngày nay.

Con người là sức mạnh của Trời đất (Thiên địa chi đức); là chủ nhân trong vũ trụ, được Trời che đất chở (Thiên phú địa tái). Trong sự liên kết đó, con người khám phá những Thiên văn, khai quật những Địa văn, để tô điểm cho Nhân văn thêm tươi đẹp và phong phú. Sau này các nhà Việt Nho đã thể hiện dòng triết lý ấy trong thơ văn một cách đầy đủ, rõ ràng. Chẳng hạn bài thơ Tam Tài của Trần Cao Vân:

Trời Đất sinh Ta có ý không?

       Chưa sinh Trời Đất có Ta trong.

       Ta cùng Trời Đất ba ngôi sánh,

       Trời Đất in Ta một chữ đồng.

       Đất nứt Ta ra, Trời chuyển động,

       Ta thay Trời mở Đất mênh mộng

       Trời che Đất chở Ta thong thả

       Trời Đất Ta đây đủ Hóa công.

Điểm thần học dân gian nổi bật lên ở đây là con người đứng giữa Trời Đất để nối kết đôi bờ Thiên Địa, được Trời che Đất chở, nên phải đắp đổi hai bên cho cân xứng. Con người vì thế phải làm tròn ba đạo: đạo Trời, đạo Đất và đạo Người. Nhờ vậy con người sẽ làm nên đời sống quân bình và toàn diện. Cha Trời Mẹ Đất chính là triết lý chấp Địa tòng Thiên của cha ông từ ngàn xưa. Nhờ đó, văn hóa truyền thống luôn là văn hóa nhất quán và giao hội. Vô tín ngưỡng, vô tôn giáo là phản bội dòng triết lý dân tộc. Con người Tam Tài là con người Thiên thời – Địa lợi – Nhân hòa. Nếu giáo dục là giúp cho con người tìm được chính mình, thì phải cho họ nhận ra ý nghĩa đời mình nhờ truy ra nguồn gốc đó, và sống tốt các tương quan đó, thì mới là giáo dục đúng nghĩa, toàn bích.

       Triết Lý Âm Dương

Dòng triết lý này được thể hiện thời Hùng Vương với Bánh Dầy Bánh Chưng: một vuông một tròn tượng trưng cho Trời tròn Đất vuông, nói lên sự vuông tròn của Âm Dương mang ý nghĩa quân bình và toàn diện. Âm dương là hai nguyên tố sinh tồn và biến hóa qua Ngũ Hành: Thủy Hỏa Thổ Kim Mộc. Nhờ Ngũ Hành tương sinh tương khắc mà có biến hóa trong trời đất. Triết lý Âm Dương Ngũ Hành cũng là nền tảng cho sự hòa điệu trong trời đất và nơi cuộc sống con người. Nhờ đó cuộc sống của Việt tộc lúc nào cũng giao hòa và nhất quán. Luật cân bằng Âm Dương còn được ứng dụng cách triệt để và hiệu quả trong Y đạo, Y lý, Y thuật, Y thể để trị liệu vạn bệnh về thể chất cũng như tinh thần.

Triết lý Âm Dương cũng nói lên nhiều điểm Thần học. Đấng Tạo Hóa tức ông Trời đã tạo dựng hai nguyên tố uyên nguyên là âm dương, để sinh hóa vạn vật trong vũ trụ: sáng-tối, ngày-đêm, nam-nữ, lành-dữ, sướng-khổ, vui-buồn, may-rủi, thăng-trầm, v.v… Hiểu như thế, cha ông ta luôn thuận theo ý Trời và luật thiên nhiên đã được đặt để, nên “Thượng bất oán Thiên, hạ bất vưu nhân”. Hoàn cảnh nào cũng có có thể đón nhận và sống trong an vui đề huề để triển nở đời sống bản thân, gia đình và xã hội.

Đạo sống quân bình âm dương chính là đạo sống Thái Hòa, tạo nên một tính cách sinh động rất uyển chuyển và hòa hợp, khiến cho người Việt Nam luôn giữ thế tự tại, làm chủ mọi sự trong mối liên thông với Đấng làm chủ chính mình và mọi người là ông Trời. Giáo dục là giúp con người đạt tới sự làm chủ bản thân mình, để từ đó biết làm chủ mọi vật, mọi việc, mọi hoàn cảnh. Nhưng điều đó chỉ có thể thực hiện được khi trước tiên, việc giáo dục phải giúp con người nhận ra Đấng làm chủ cuộc đời mình và toàn thể vũ trụ. Toàn thể mọi sự nơi con người phải được qui hướng về đó để làm nên sự thành toàn của chính mình.

       Triết Lý Nông Nghiệp

Triết lý Nông Nghiệp hệ tại quan niệm: nông nghiệp là công việc do khối óc và bàn tay con người khai phá và làm nên từ tài nguyên sẵn có do Trời ban cho. Việc phát triển kinh tế, công nghiệp, kỹ thuật, khoa học cũng bắt nguồn từ quan niệm nền tảng này. Căn bản của Nông Nghiệp hay mọi nghành nghề khác vẫn là đạo đức. Nền đạo đức này hệ tại ăn ở thuận hợp với Trời đất thì mới phong đăng hòa cố, bở vì: “Ơn Trời phù hộ ngày đêm”, hoặc “Quyền cao chức trọng Trời cho”, hoặc “Tam đa phú quý rõ ràng Trời cho”.

Căn bản của mọi tôn giáo là thờ Trời, dù ý niệm về Ông Trời có khác nhau, nhưng vẫn ý chỉ về một Đấng Tuyệt Đối, vô song, là chủ tể muôn loài muôn vật. Tất cả đều phải qui hướng về đó để phát triển cuộc sống mình, để tìm thấy ý nghĩa nguyên nhân và cùng đích của cuộc đời mình. “Sống gửi thác về” là như thế, là về với cội nguồn, về với Đấng mà từ đó mình đã phát xuất, để sau một sống đã chu toàn sứ mệnh là con Trời, người ta trở về nơi quê hương vĩnh cửu để sống an vui và hạnh phúc muôn đời. Giáo dục phải giúp con người đạt tới hiểu biết thâm hậu này để làm nền tảng cho mọi phát triển của đời người trong đời sống xã hội, thì mới là nền giáo dục chân chính, đích thực. Nền giáo dục chân chính, đích thực, chính là nền giáo dục Nhân bản Tâm linh.

        Linh mục Thái Nguyên

[1] Nhóm biên soạn, Từ Điển Giáo Dục Học, NXB Từ Điển Bách Khoa, 2001.

[2] Như trên.

[3] Hoàng Phê, Từ Điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2003; Lê văn Đức và nhóm biên soạn, Tự Điển Việt Nam, Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, 1970.

[4] Larousse, 1992, tr. 352.

[5] Dựa trên bài viết “Triết lý truyền thống dân tộc Việt”, của Vũ Đình Trác trong cuốn Suy tư và đóng góp cho Thần Học Việt Nam, tr. 10-26.

Advertisements

KARATE DO – LỐI SỐNG CỦA TÔI GICHIN FUNAKOSHI (Phần 4)

CÁC SƯ PHỤ
…tôi tiếp tục siêng năng tập luyện karate, học hỏi một số vị thày : sư phụ Kiyuna, người với tay không có thể lột vỏ một cái cây trong chớp nhoáng; sư phụ Toono ở Naha , một trong những học giả về Nho giáo nổi tiếng nhất của hòn đảo; sư phụ Niigaki , người gây ấn tượng sâu sắc nhất với tôi về sự gần gũi, và sư phụ Matsumura, một trong những karateka lớn nhất, người mà tôi sẽ đề cập đến nhiều hơn về sau. Cho đến lúc đó , tôi vẫn không hề quên hai vị sư phụ đầu tiên của mình. Ngược lại, tôi tìm cách có thời gian với họ càng nhiều càng tốt, và từ họ tôi đã được học hỏi không chỉ về karate mà còn về nhiều điều khác. Ví dụ, sư phụ Azato là một người quan sát rất nhạy bén về tình hình chính trị. Tôi nhớ có lần ông nói với tôi rằng :” Này Funakoshi, sau khi tuyến đường sắt xuyên Siberia được hoàn thành thì chiến tranh giữa Nhật và Nga sẽ khó mà tránh khỏi”. Ông nói điều này nhiều năm trước khi sự đối nghịch giữa 2 đất nước xảy ra vào năm 1904. Điều có lúc tưởng chừng khó có thể xảy ra đã trở thành thực tế và tôi hết sức ấn tượng với tầm nhìn về chính trị của ông Azato. Cũng chính ông , trong thời Minh Trị Duy Tân, đã khuyến cáo thống đốc của Okinawa hãy hợp tác hoàn toàn với chính quyền mới thành lập, và khi lệnh cấm không được búi tóc được triển khai, thì ông là một trong những người đầu tiên chấp hành.
Sư phụ Azato cũng còn là một tay kiếm giỏi của kiếm phái Jigen. Dù không phải là người hay khoe khoang , ông hết sức tự tin vào khả năng kiếm thuật của mình. Có lần , tôi nghe ông nói rằng :” Ta không nghĩ rằng ta sẽ thua bất cứ ai trên đất nước này nếu như bước vào một cuộc đấu sinh tử tay đôi”. Sự tự tin này sau đó được chứng minh là có cơ sở khi ông Azato gặp Yorin Kanna, một trong những kiếm sư giỏi nhất của Okinawa. Kanna là một người cao to lực lưỡng với những bắp tay và vai to, người ta thường nói rằng vai của ông ấy như những tòa nhà hai tầng! Ông là một người can đảm , không biết sợ là gì, và ông cũng rất nổi tiếng về khả năng võ thuật. Ông cũng còn là một người học rộng, am hiểu cổ thư của cả Nhật Bản lẫn Trung Hoa. Rõ ràng , ai đó có thể nghĩ rằng ông ấy vượt trội so với ông Azato. Tuy nhiên , trong cuộc đối đấu nổi tiếng ấy, khi ông tấn công Azato bằng một đường kiếm, ông đã hết sức ngạc nhiên khi thấy đòn tấn công của mình bị đối thủ tay không đẩy sang một bên. Bằng một cái hất tay, ông Azato không chỉ tránh được đòn đâm tới mà còn buộc ông Kanna phải khuỵu chân xuống. Khi tôi yêu cầu ông Azato mô tả cho tôi điều gì đã thực sự xảy ra thì ông nói rằng: Kanna là một kiếm sư giỏi, người có tiếng là bất khả chiến bại và không biết sợ là gì, có khả năng khiến đối thủ của ông ấy kinh hãi ngay từ đầu cuộc chạm trán và nhờ đó có thể kết liễu đối thủ nhanh chóng. Tuy nhiên , ông Azato bảo, nếu như đối thủ không khiếp sợ , nếu như anh ta giữ được sự lạnh lùng và nếu như anh ta tìm được chỗ sơ hở trong thế thủ của Kanna thì chiến thắng không phải là điều quá khó. Lời khuyên này , cũng như tất cả những chỉ dẫn sau đó của ông Azato, có giá trị rất lớn đối với tôi.
Một khẩu quyết nữa của ông Azato là “ Khi tập karate , hãy nghĩ những cánh tay và những đôi chân của mình như những lưỡi kiếm”. Trong thực tế, những pha thi triển Karate của chính ông Azato là những ví dụ sống động cho triết lý này. Có lần, có một người hỏi ông về ý nghĩa và cách ứng dụng của đòn đánh Ippon-ken ( N.D: đòn tay, sử dụng một đốt ngón tay nhô lên để đánh, võ cổ truyền VN thường gọi là “ phụng nhãn”). Ông Azato nói nhẹ nhàng :” Thử đánh tôi đi”. Người kia làm như được bảo, nhưng trong chớp mắt , cú đánh bị gạt đi và chính đòn Ippon-ken của ông Azato bay về phía bụng đối thủ, dừng lại trước mục tiêu với một khoảng cách chỉ bằng một tờ giấy mỏng. Toàn bộ các động tác hết sức tuyệt vời. Người đặt câu hỏi thậm chí không có thời gian để chớp mắt trước khi nhận ra rằng : nếu như đòn đánh thật sự trúng vào chấn thủy của mình thì có thể anh ta đã thiệt mạng.
Ông Azato cũng có những thông tin hết sức chi tiết về tất cả các chuyên gia Karate sống tại Okinawa trong thời gian đó. Những thông tin này không chỉ bao gồm những chi tiết đơn giản như tên tuổi , địa chỉ mà còn là những điều về khả năng , kỹ năng đặc biệt và kỹ thuật của họ, điểm mạnh và điểu yếu của từng người. Ông thường nói với tôi rằng hiểu được khả năng và kỹ thuật của đối thủ tức là đã giải quyết được phân nửa trận đấu , và ông trích dẫn một câu của Tôn Tử: “ Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng”.
Cả Azato và người bạn Itosu của ông có ít nhất là một điểm chung : họ không hề ganh tỵ với những bậc thày khác. Họ có thể giới thiệu tôi với những vị thày khác mà họ quen biết, thúc giục tôi học những kỹ thuật là các sở trường của các vị đó. Theo kinh nghiệm của tôi, có nhiều người dạy karate không thích học trò của mình theo học với những trường phái khác, nhưng điều này không đúng với cả ông Azato lẫn ông Itosu. Nếu như họ không dạy tôi điều gì thì tôi cũng đã học được tấm gương về sự rộng rãi và khiêm tốn của họ khi cư xử với những người khác. Trên thực tế , họ cũng không bao giờ cao ngạo về những “ hành động anh hùng “ mà người ta gắn liền với tên tuổi họ , những điều này bị gạt đi và bị coi là những “ hành động rồ dại của tuổi trẻ”.
Hai vị sư phụ của tôi chia sẻ những phẩm chất khác nữa, trong đó có điều thú vị là : hai người cùng mang họ Yasutsune. Nhưng trong karate , triết lý của họ lại khá khác nhau và về mặt thể chất thì họ cũng khác. Trong khi sư phụ Azato thì cao, có đôi vai rộng,đôi mắt sắc sảo , và hình dáng của một samurai cổ xưa thì sư phụ Itosu chỉ cao trung bình, có bộ ngực tròn to như một cái thùng bia. Cho dù để hàng ria dài , ông Itosu trông khá giống một đứa trẻ ngoan ngoãn. Và đó là một vẻ bề ngoài khiến người ta dễ bị đánh lừa , vì ông có những cánh tay và bàn tay có sức mạnh ghê gớm. Cứ mỗi lần bị ông Azato thách đấu một màn vật tay kiểu Okinawa thì bao giờ ông Itosu cũng chiến thắng. Trong kiểu vật tay này , hai người đấu sẽ nắm chặt nắm đấm và ngoắc cổ tay nhau. Họ sẽ không được dùng bàn tay của mình để nắm bàn tay đối phương như kiểu vật tay ở Tokyo. Sau khi bị áp đảo thì ông Azato thường than thở rằng ông sẽ chẳng bao giờ thắng được ông Itosu, cho dù ông có sử dụng cả hai tay đi nữa. Trên thực tế, ông Itosu đã khổ luyện đến mức toàn bộ cơ thể của ông có vẻ bất khả xâm phạm. Có lần , khi ông sắp bước vào một nhà hàng ở trung tâm giải trí tại Naha thì có một thanh niên lực lưỡng từ phía sau tấn công ông bằng một cú đánh vào hông. Thậm chí không xoay người lại, ông gồng cơ bụng để cho cú đánh trượt đi và nắm lấy cổ tay phải của người tấn công. Vẫn không quay đầu lại, ông lạnh lùng kéo người thanh niên đi vào trong nhà hàng. Ông gọi thức ăn và rượu khi những người phục vụ đang sợ sệt. Vẫn nắm cổ tay người thanh niên bằng tay phải , ông nhấp một ngụm rượu từ cái ly cầm bằng tay trái, và rồi ông lôi kẻ tấn công vòng ra phía trước mình, để lần đầu tiên nhìn mặt anh ta. Sau một lát , ông mỉm cười và nói:” Tôi không hiểu tại sao anh lại tấn công tôi, nhưng chúng ta hãy uống cùng với nhau”. Có thể dễ dàng hình dung sự kinh ngạc của người thanh niên trước cách cư xử như thế.
Ông Itosu còn có một cuộc chạm trán nổi tiếng khác với một thanh niên liều lĩnh , cũng là huấn luyện viên karate của một võ phái ở Okinawa. Có tính hiếu chiến và rất tự hào về sức mạnh của mình , thanh niên này có một thói quen xấu là ẩn nấp ở những con đường tối, và khi có một người bộ hành đơn độc nào tình cờ đi qua thì anh ta có thể sẽ lao ra hạ con người tội nghiệp đó. Anh ta tự tin đến nỗi cuối cùng quyết định rằng sẽ tấn công ông Itosu một cách bất ngờ. Một đêm nọ , anh ta đi theo ông Itosu đến cuối một con đường , và lẻn đến từ phía sau , lấy hết sức mình đấm mạnh vào lưng bậc thày Karate. Kinh ngạc vì đối thủ của mình không bị sao cả, người thanh niên mất thăng bằng và cùng lúc đó anh ta cảm thấy cổ tay phải của mình bị nắm chặt cứng. Người thanh niên cố dùng tay còn lại để thoát ra , nhưng dĩ nhiên là anh ta không thành công. Sức nắm bàn tay ở ông Itosu đã thành giai thoại ở Okinawa. Như tôi đã nói đến ở phần trước , ông có thể nghiền nát một thân cây tre dày chỉ với một bàn tay.Ông Itosu tiếp tục bước đi , kéo anh chàng kia đi theo trong khi ông cũng chẳng buồn quay lại nhìn. Nhận thấy mình đã thất bại hoàn toàn , người thanh niên xin được tha thứ. Ông Itosu hỏi nhẹ nhàng :” Nhưng anh là ai? “ –Người thanh niên đáp :” Tôi là Goro”. Lúc này, lần đầu tiên ông Itosu nhìn anh ta và ông lẩm bẩm :” À, anh thật sự không nên thử những trò đó với một ông già như tôi”. Chỉ nói thế , ông thả tay người thanh niên ra , và đi tiếp.
Những hình ảnh sống động trong tâm trí tôi khi tôi nhớ lại hai người thày của mình , cùng với những triết lý khác nhau của họ về Katate. “ Hãy coi tay và chân mình như những lưỡi kiếm “- ông Azato thường nói với tôi như thế. Trong khi đó, ông Itosu khuyên tôi nên rèn luyện cơ thể của mình để có thể chịu được bất cứ đòn đánh nào , dù mạnh đến đâu đi nữa. Ý ông ấy là , tôi không chỉ phải rèn luyện cơ thể của mình cho đến khi nó trở nên rắn chắc mà cũng còn phải tập luyện hàng ngày tất cả các kỹ thuật khác của karate.
Giờ đây, tôi nhớ lại một sự kiện khác , khi mà ông Itosu gặp phải một nhóm côn đồ. Nhưng chỉ trong chốc lát tất cả những gã lưu manh đã nằm bất tỉnh trên đường phố. Có một người chứng kiến , thấy rằng ông Itosu không còn gặp nguy hiểm nữa nên vội chạy về gặp ông Azato để kể lại sự việc. Cắt ngang lời kể của anh ta, ông Azato nói : “ Và rồi tất cả những kẻ đó đều nằm úp mặt bất tỉnh ở trên đường có đúng không?” . Qúa ngạc niên , người kia thừa nhận đúng là như thế , nhưng thắc mắc tại sao ông Azato có thể biết được. Ông Azato bảo :” Chẳng có ai am tường karate lại hèn hạ tấn công từ phía sau. Và nếu như ai đó không biết karate lại tấn công từ phía trước thì anh ta sẽ ngã ngửa xuống đất. Ta biết ông Itosu, những cú đấm của ông ấy sẽ khiến những kẻ tấn công ngã úp mặt. Ta sẽ khá ngạc nhiên nếu như có ai đó trong bọn họ có thể thoát được”.
Một lần khác , ông Itosu giật mình tỉnh dậy giữa đêm vì một số tiếng động lạ từ cổng ngôi nhà của mình. Khi ông nhẹ nhàng tiếng gần về phía phát ra tiếng động, ông nhận ra có ai đó đang cố gắng mở khóa cổng. Ngay lập tức , chỉ bằng một đòn đánh ,ông đấm thủng cánh cổng bằng gỗ. Cùng lúc đó , ông thọc tay qua lỗ thủng và nắm lấy cổ tay tên trộm. Thông thường , một karateka trung bình nếu đấm vỡ một miếng ván dày thì nó thường văng ra thành nhiều mảnh. Còn trong trường hợp này , chỉ có một lỗ thủng hình tròn, tôi biết điều đó là thật vì tôi nghe chính ông Azato kể lại như vậy.
Tôi luôn luôn mong muốn có được những lời khen ngợi từ hai người thày này. Tôi thường thực hiện một nghi thức – không chỉ để tôn vinh họ mà còn để tôn vinh tất cả những người thày đã từng dạy tôi- đây là điều tôi mong muốn tất cả các môn sinh ngày nay thực hiện : tôi thắp nhang tại chùa cho mỗi người thày của mình và hứa với lòng mình không bao giờ lạm dụng những gì mình học hỏi được để làm những điều sai trái. Tôi nghĩ lời hứa đó , điều mà tôi luôn trung thành, là kết quả của việc tôi đã được đối xử như một thành viên của gia đình họ, ngay cả sau khi tôi lập gia đình và có con. Trên thực tế, cho đến khi các sư phụ mất , tôi vẫn thường xuyên đưa những đứa con của tôi đến nhà họ, nơi mà thỉnh thoảng họ lại biểu diễn một bài quyền nào đó cho những đứa trẻ xem rồi khuyến khích chúng làm theo. Để có phần thưởng , hai vị sư phụ thường cho các con tôi những cái kẹo , những thứ mà lúc đó tôi không có tiền để mua ( thứ tuyệt nhất mà tôi thỉnh thoảng có thể thưởng cho chúng là một củ khoai lang!). Các sư phụ yêu quý bọn trẻ và coi chúng như cháu nội của mình. Rồi sau đó những đứa trẻ bắt đầu tự mình đến thăm các sư phụ, cũng như tôi từng làm hồi còn nhỏ. Và chúng cũng nhanh chóng yêu thích karate như tôi. Bây giờ nhìn lại , tôi thấy các con tôi và tôi, hai thế hệ, đã hưởng lợi ích lớn lao từ sự dạy dỗ của hai vị sư phụ. Liệu tôi có thể tìm ở đâu đủ từ ngữ để bày tỏ hết sự biết ơn của mình?

Funakoshi Gichin

Người dịch: Anh Vu Nguyen

KARATE DO – LỐI SỐNG CỦA TÔI GICHIN FUNAKOSHI (Phần 3)

NHẬN BIẾT NHỮNG ĐIỀU VÔ NGHĨA
Tôi cảm thấy thật cần thiết , ngay từ lúc bắt đầu này, để đưa ra một bình luận ngắn gọn về những gì không phải là karate, bởi vì đã có rất nhiều điều vô nghĩa được viết về chủ đề này trong những năm gần đây. Rồi sau đó , khi có dịp , tôi sẽ cố gắng làm rõ việc trên thực tế karate là gì. Nhưng trước khi đi xa hơn , tôi nghĩ là đúng đắn khi gạt đi một số ngộ nhận hiện vẫn tiếp tục che khuất bản chất thật của nghệ thuật này. Ví dụ như , có lần , tôi nghe một người tương đối có uy tín nói với những thính giả đang kinh ngạc của mình rằng :” Trong karate , chúng ta có một bài quyền tên là Nukite. Chỉ sử dụng năm ngón tay của một bàn tay, một người có thể đâm xuyên qua xương sườn của đối thủ, nắm lấy cái xương và lôi nó ra khỏi cơ thể”. Người đó tiếp tục nói :” Dĩ nhiên, đây là một bài quyền rất khó để tinh thông. Một người sẽ bắt đầu tập luyện nó bằng cách xỉa những ngón tay vào một cái thùng chứa đầy hạt đậu, nhiều giờ mỗi ngày, xỉa hàng ngàn lần. Lúc đầu , những ngón tay của người đó hết sức đau đớn khi luyện tập như thế, và bàn tay sẽ rướm máu. Sau đó một thời gian , máu đông đặc lại , hình dáng những ngón tay người đó sẽ trở nên kỳ dị. Cuối cùng thì cảm giác đau đớn sẽ biến mất. Rồi những hạt đậu trong thùng sẽ được thay bằng cát , vì dĩ nhiên là cát sẽ khó để xỉa qua hơn và những ngón tay sẽ phải gặp lực cản lớn hơn. Nhưng cứ tiếp tục tập luyện thì rồi cuối cùng các ngón tay có thể xuyên qua cát để chạm đến đáy thùng. Sau khi luyện với cát là đến luyện với đá sỏi, ở đây cũng phải tập luyện lâu dài để có thể đạt được thành công. Cuối cùng là tập với những viên bi bằng chì. Sau những buổi tập kéo dài và gian khổ, những ngón tay sẽ trở nên mạnh mẽ đến nỗi không chỉ có thể xỉa vỡ một tấm ván dày mà còn có thể bóp nát dễ dàng một hòn đá hoặc xuyên thủng da một con ngựa”. Chắc chắn là có nhiều người nghe diễn tả lạ lùng này sẽ tin vào nó. Nhiều môn sinh karate , vì lý do này hay lý do khác, vẫn chọn cách dung dưỡng những huyền thoại kiểu như thế. Ví dụ, có một người không hiểu karate lắm có thể nói với một người tập karate rằng :” Tôi hiểu rằng anh tập karate. Vậy hãy cho tôi biết , liệu có thật là anh có thể xỉa vỡ tan một hòn đá lớn bằng các ngón tay của mình hay không? Có thật là anh có thể xuyên thủng bụng đối thủ bằng ngón tay hay không? Nếu như người tập karate nói rằng cả hai điều trên đều không thể làm được thì đó là anh ta nói rất thật. Nhưng cũng có một số người sẽ nhún vai và lẩm bẩm “ À, thì đôi khi tôi cũng…” Kết quả là , người nghe sẽ nhận được một ấn tượng hoàn toàn sai lệch và cũng đáng sợ về karate. Anh ta sẽ tự hỏi, với sự e ngại và kinh ngạc, rằng liệu người tập karate kia có sở hữu những sức mạnh siêu nhiên hay không. Có một thực tế là những người tập karate thường hay nói quá và cường điệu để rồi làm thay đổi bản chất của môn này là những người trò chuyện rất khéo, và thường anh ta sẽ thành công trong việc làm cho những người nghe mình hứng thú , đồng thời thuyết phục họ rằng karate là một cái gì đó rất đáng sợ. Nhưng những gì anh ta nói hoàn toàn không đúng sự thật, hơn nữa anh ta lại biết điều đó. Vậy thì tại sao anh ta làm như thế , đó là bởi vì điều đó nghe hay ho. Có lẽ, ở trong quá khứ, đã có một số chuyên gia karate có thể thực hiện những màn biểu diễn gây kinh ngạc như thế. Điều đó thì tôi không thể xác minh, nhưng tôi có thể bảo đảm với các độc giả của mình là, ít nhất theo sự hiểu biết của tôi, không có con người nào , dù có tập luyện nhiều đến đâu, có thể vượt quá những giới hạn tự nhiên của sức mạnh con người. Nhưng vẫn có những người tập karate tuyên bố theo kiểu khác. Họ nói :” Trong katate, một sức nắm mạnh mẽ của bàn tay là rất quan trọng. Để đạt được điều đó , một người phải tập luyện hết giờ này đến giờ khác. Cách hay nhất là sử dụng đầu ngón tay của cả hai tay để nhấc hai cái xô nặng , chứa đầy những thứ như cát chẳng hạn và vung vẩy chúng thật nhiều lần. Người đã tăng cường sức nắm của tay mình theo kiểu này có thể dễ dàng xé thịt của đối thủ thành từng mảnh”. Thật là vô lý làm sao! Một ngày nọ , có một người như thế đến dojo ( võ đường) của tôi và đề nghị sẽ dạy cho tôi bí quyết xé thịt đối thủ thành từng mảnh. Tôi yêu cầu anh ta biểu diễn ngay trên người tôi và rồi phải bật cười , khi cuối cùng anh ta có thể nhéo vào da tôi một chút nhưng thậm chí không thể để lại một dấu bầm nào. Tôi nhớ có nghe nói về một người có thể đi vòng quanh nhà mình ở Okinawa bằng cách đu người dọc theo mái hiên, và bất cứ ai biết về những ngôi nhà ở Okinawa cũng có thể hiểu điều đó có làm được hay không. Bản thân tôi đã từng chứng kiến sư phụ Itosu nghiền nát một thân cây tre dày bằng tay không. Điều này có vẻ là một kỳ tích phi thường, nhưng tôi tin rằng sức nắm mạnh mẽ của ông là do bẩm sinh, không chỉ do thông qua tập luyện, cho dù tập luyện đã tăng cường sức mạnh này. Bất cứ ai cũng có thể, sau khi tập luyện thích hợp, đạt được những thành tích đáng kể về sức mạnh, nhưng anh ta sẽ chỉ có thể đi xa đến một mức nào đó chứ không hơn nữa. Có một giới hạn về sức mạnh thể chất của con người mà không ai có thể vượt qua. Trong khi đúng là một chuyên gia karate có sức mạnh có thể đánh vỡ một miếng ván dày hay nhiều miếng ngói với chỉ một cú đánh bằng tay, thì tôi bảo đảm với các độc giả của tôi rằng ai cũng có thể làm điều tương tự sau khi tập luyện một cách thích đáng. Chẳng có gì là kỳ lạ về những thành tích như vậy. Và nó cũng chẳng có gì liên quan đến tinh thần đích thực của karate; nó đơn thuần chỉ là một màn biểu diễn về sức mạnh của một người có được thông qua rèn luyện. Không có gì là bí ẩn ở đây. Tôi thường được nhiều người còn lạ lẫm với karate hỏi rằng liệu cấp đai của một võ sư có liên quan đến số lượng miếng ngói mà anh ta có thể phá vỡ với một cú đánh bằng tay hay không. Tất nhiên , giữa hai điều này chẳng có gì liên quan. Karate là một trong những môn võ thuật hoàn thiện nhất và bất cứ người tập karate nào khoe khoang về việc có thể dùng tay không đánh vỡ bao nhiêu miếng ngói hay tuyên bố rằng có thể xé thịt thành từng mảnh hoặc lôi xương sườn từ trong người ra thì đó là người có rất ít khái niệm về việc karate đích thực là gì.

Funakoshi Gichin

Người dịch: Anh Vu Nguyen

KARATE DO – LỐI SỐNG CỦA TÔI GICHIN FUNAKOSHI (Phần 2)

BƯỚC VÀO CON ĐƯỜNG
Mất đi búi tóc
Cuộc cải cách Minh Trị Duy Tân và tôi ra đời cùng một năm , 1868. Cuộc cải cách khởi phát tại cố đô Edo của shogun , sau này được biết đến dưới cái tên Tokyo. Tôi thì sinh ra tại quận Yamakawa-cho ở thủ phủ Shuri của Okinawa. Nếu có ai đó muốn tìm hiểu về những hồ sơ chính thức thì anh ta sẽ thấy rằng tôi sinh ra trong năm Minh Trị thứ ba ( 1870). Nhưng trên thực tế ngày sinh của tôi là ở năm đầu tiên của triều đại này và tôi đã khai man giấy tờ của mình để có thể được tham dự những kỳ thi tuyển vào một trường y tại Tokyo.
Vào thời đó , có một quy định là chỉ có những ai sinh năm 1870 hoặc sau đó mới có thể tham dự kỳ thi , vì thế tôi đã không có lựa chọn nào ngoài việc phải sửa lại hồ sơ cá nhân . Hồi đó , làm việc đó khá dễ , vì cũng có điều lạ là việc đăng ký không nghiêm ngặt như ngày nay.
Sau khi đã sửa đổi ngày sinh tháng đẻ của mình , tôi tham dự các kỳ thi và vượt qua được, nhưng tôi vẫn không thể vào học ở trường y tại Tokyo. Lý do thì có vẻ dễ hiểu vào thời đó nhưng sẽ khó hiểu hơn vào thời này, tôi cho là như vậy.
Trong số nhiều cải cách được chính quyền Minh Trị non trẻ đưa ra trong 20 năm đầu tiên cầm quyền là việc hủy bỏ búi tóc, một kiểu để tóc nam đã trở thành truyền thống trong cuộc sống Nhật Bản từ rất lâu đời. Đặc biệt , ở Okinawa , búi tóc được coi là biểu tượng không chỉ của sự trưởng thành, hùng dũng mà còn của cả nam tính. Khi sắc lệnh cấm để búi tóc được ban hành toàn quốc, sự chống đối nổi lên khắp đất nước. Nhưng tôi nghĩ , không có nơi nào có những phản ứng trái ngược dữ dội như ở Okinawa.
Ở đây, những ai tin rằng số phận tương lai của Nhật Bản đòi hỏi đất nước này phải du nhập những tư tưởng Phương Tây và những ai tin vào những điều ngược lại thường xuyên đối đầu với nhau trong hầu hết những cải cách của chính quyền.
Tuy nhiên , có vẻ như không có gì khuấy động Okinawa mạnh mẽ như vấn đề hủy bỏ búi tóc. Nói chung, những người đàn ông trong các dòng họ shizoku (tầng lớp xã hội gồm các samurai cũ và gia đình họ- N.D) thì cương quyết phản đối, trong khi tầng lớp heimin ( tầng lớp bình dân gồm những người nông dân ,lao động và buôn bán –N.D), cùng một số ít trong tầng lớp shizokuu thì ủng hộ đạo luật cấm để búi tóc. Nhóm người sau được gọi là Kaika-to ( Nhóm Giác Ngộ ) , nhóm trước được gọi là Ganko-to ( Nhóm Cứng Rắn).
Gia đình tôi có nhiều thế hệ gắn liền với hệ thống quan chức cấp thấp, tất cả gia tộc đều thống nhất và cương quyết chống lại việc cắt búi tóc. Một hành động như thế là đáng ghê tởm đối với mọi thành viên trong gia đình tôi, cho dù bản thân tôi thì không cảm thấy mình thiên về một cách giải quyết nào.
Kết quả là tôi đã nhượng bộ trước áp lực của gia đình, và vì trường học từ chối tiếp nhận những học sinh vẫn duy trì phong cách truyền thống nên toàn bộ tương lai cuộc sống của tôi bị ảnh hưởng bởi một vấn đề rất nhỏ là một cái búi tóc bù xù.
Cuối cùng , dĩ nhiên , cũng giống như bất cứ ai khác, tôi đã phải thích nghi, nhưng trước khi kể chuyện đó đã xảy ra như thế nào thì tôi phải nói đến nhiều năm trước đó.
Cha Gisu của tôi là một quan chức nhỏ , và tôi là con trai duy nhất của ông. Sinh thiếu tháng , tôi là một đứa trẻ khá ốm yếu, và vì thế cả cha mẹ lẫn ông bà tôi đều cho rằng tôi không thể có một cuộc sống dài lâu, và họ chăm sóc tôi một cách đặc biệt. Tôi được cả ông bà nội lẫn ông bà ngoại cưng chiều. Trên thực tế , sau khi sinh ra không lâu , tôi đã được đưa về sống với ông bà ngoại. Ông ngoại tôi đã dạy tôi Tứ Thư và Ngũ Kinh của Khổng giáo- một điều thiết yếu cho những đứa con trai của tầng lớp shizoku.
Trong thời gian ở với ông bà ngoại, tôi bắt đầu đến trường tiểu học và sau một thời gian tôi trở thành bạn thân của một trong những người bạn cùng lớp. Đây cũng là điều khiến cuộc đời tôi thay đổi ( theo một cách căn bản hơn so với chuyện cái búi tóc), bởi vì bạn học của tôi là con trai của ông Yasutsune Azato , một trong những võ sư lớn nhất của Okinawa về nghệ thuật karate.
Sư phụ Azato là người thuộc về một trong 2 tầng lớp bậc trên của các gia đình shizoku ở Okinawa : tầng lớp Udon là tầng lớp cao nhất , tương đương với tầng lớp daimyo ở các dòng họ bên ngoài Okinawa; tầng lớp Tonochi là hậu duệ của những người đứng đầu các thị trấn và làng mạc. Ông Azato thuộc về tầng lớp sau, gia đình ông giữ những vị trí trọng vọng ở ngôi làng Azato , nằm giữa Shuri và Naha. Có điều rất hay là những người thuộc dòng họ Azato được cựu thống đốc của Okinawa cư xử bình đẳng như những người bạn thân chứ không coi như những người thuộc cấp.
Sư phụ Azato không chỉ vô đối tại Okinawa về nghệ thuật karate mà còn rất giỏi về môn cưỡi ngựa, về kiếm thuật Nhật Bản ( Kendo) và về Cung thuật. Hơn thế nữa , ông còn là một học giả xuất sắc. Tôi đã rất may mắn được ông chú ý đến và cuối cùng đã được học những bài học đầu tiên về karate do chính ông chỉ dạy.
Vào thời đó , chính quyền cấm tập luyện karate, vì thế các buổi tập phải diễn ra trong bí mật. Tất cả các môn sinh bị thày của mình cấm không được nói với ai về việc họ đang học môn này. Tôi sẽ nói nhiều hơn về điều này ở phần sau. Lúc này , chỉ cần biết rằng việc tập luyện chỉ có thể tổ chức vào ban đêm và trong vòng bí mật. Ngôi nhà của ông Azato nằm khá xa nhà ông bà ngoại tôi , nơi tôi vẫn ở, nhưng khi mà niềm đam mê đã xâm chiếm thì tôi dần dà phát hiện ra trong những chuyến đi bộ trong đêm rằng sức khỏe của tôi đã cải thiện một cách đáng kể và tôi không còn là một đứa trẻ ốm yếu nữa. Tôi ham mê karate , nhưng còn hơn thế nữa khi tôi cảm thấy nặng nợ với môn này vì nó giúp tôi tăng cường sức khỏe. Chính vào khoảng thời gian này tôi đã băt đầu suy nghĩ một cách nghiêm túc về việc biến Karate-do thành một lối sống.
Tuy nhiên , ý nghĩ về việc nó cũng có thể trở thành một nghề nghiệp không hề len vào tâm trí tôi. Kể từ khi cuộc tranh cãi gai góc về cái búi tóc khiến một sự nghiệp trong ngành y trở nên ngoài tầm với của tôi thì tôi bắt đầu nghĩ đến các lựa chọn khác. Do tôi đã được dạy về các cổ thư Trung Hoa từ khi còn nhỏ bởi cả ông ngoại lẫn ông Azato, nên tôi quyết định sẽ tận dụng kiến thức đó để trở thành một giáo viên.Thế là tôi tham dự các kỳ thi tuyển và được trao cho vị trí trợ giảng tại một trường tiểu học. Trải nghiệm đứng lớp đầu tiên của tôi xảy ra vào năm 1888, khi tôi 21 tuổi.
Nhưng cái búi tóc vẫn là một cản trở, do trước khi được phép thực hiện các bổn phận của mình như là một giáo viên thì tôi được yêu cầu phải bỏ cái búi tóc đi. Với tôi thì điều này hoàn toàn có lý.Nhật Bản lúc đó đang trong tình trạng xáo trộn, nhiều thay đổi lớn diễn ra khắp nơi, ở mọi khía cạnh của cuộc sống. Tôi cảm thấy rằng mình, là một giáo viên, buộc phải giúp đỡ thế hệ trẻ, thế hệ mà một ngày kia có thể tạo nên vận mệnh của quốc gia, có thể hàn gắn những khoảng cách lớn giữa cái cũ và cái mới của nước Nhật. Tôi khó lòng mà phản đối lệnh cấm cho rằng cái búi tóc truyền thống của chúng tôi giờ đây đã trở thành một tàn tích của quá khứ. Dù vậy , tôi đã e sợ khi nghĩ đến những điều mà các thành viên lớn tuổi hơn trong gia đình tôi có thể nói.
Vào thời đó , các giáo viên mặc các bộ đồng phục ( không giống như những bộ trang phục của các sinh viên ở Peers ‘ School trước chiến tranh), với một áo choàng sẫm màu gài nút đến tận cổ, những nút áo bạc thiết kế theo hình hoa anh đào nở. Chính trong bộ đồng phục này, sau khi đã cắt bỏ búi tóc, tôi đã về thăm cha mẹ để báo rằng tôi đã được nhận vào làm giáo viên trợ giảng ở một trường tiểu học.
Cha tôi đã không tin vào mắt mình . Ông gào lên giận dữ :” Con đã làm gì với bản thân thế? Con là con trai của một samurai!”. Mẹ tôi còn giận hơn ông, bà không nói với tôi tiếng nào , quay mặt đi và ra khỏi nhà qua cửa sau, rồi chạy về nhà ông bà ngoại tôi. Tôi hình dung toàn bộ những chuyện ồn ào như thế có thể chỉ là những điều ngớ ngẩn đối với giới trẻ ngày nay.
Dù sao đi nữa thì tất cả đã được định đoạt. Dù có sự phản đối quyết liệt của cha mẹ , tôi vẫn bước vào nghề nghiệp mà tôi sẽ theo đuổi trong 30 năm sau đó. Nhưng tôi cũng không hề từ bỏ tình yêu thực sự ban đầu của mình. Tôi dạy ở trường vào ban ngày và sau đó , do lệnh cấm đối với karate vẫn còn được thực thi, tôi lén đi tập trong đêm tối im ắng, cầm theo một ngọn đèn lồng mờ mờ khi không có trăng , để đến nhà sư phụ Azato. Hết đêm này đến đêm khác , tôi chỉ lẻn về nhà trước khi trời sáng. Những người hàng xóm thắc mắc không biết tôi đi đâu và làm gì. Một số cho rằng câu trả lời khả dĩ cho sự tò mò này là tôi đã đi đến một nhà thổ.

Tất nhiên là trong thực tế thì hoàn toàn khác. Đêm này qua đêm khác, thường là ở sân sau ngôi nhà ông Azato, với sự chứng kiến của sư phụ, tôi tập luyện kata ( bài quyền) hết lần này đến lần khác, tuần này sang tuần khác, đôi khi là tháng này sang tháng khác, cho đến khi tôi nắm vững và khiến sư phụ hài lòng.
Việc lập đi lập lại mãi một bài quyền quả là rất khó khăn, thường rất mỏi mệt và trong vài trường hợp còn đáng xấu hổ nữa.Đã hơn một lần tôi phải nếm mùi đất trên sàn của dojo hoặc là ở sân sau nhà ông Azato. Nhưng việc luyện tập rất nghiêm ngặt và tôi chưa bao giờ được phép hài lòng với bài quyền tôi đang tập luyện.
Mặc dù đã khá lớn tuổi , sư phụ tôi luôn ngồi yên ở ban công trong khi chúng tôi tập ở bên ngoài. Ông mặc một cai hakama , với một ngọn đèn ở bên cạnh. Thường thì do quá mệt , nhiều khi tôi thấy mình thậm chí còn không thổi tắt nổi ngọn đèn.
Sau khi đi bài quyền , tôi sẽ chờ đợi những lời nhận xét của ông, lúc nào cũng rất ngắn gọn. Nếu ông vẫn chưa hài lòng với kỹ thuật của tôi thì ông sẽ lẩm bẩm “ Làm lại” hoặc “ Thêm một chút nữa”. Một chút nữa , một chút nữa , thường là một chút nữa cho đến khi mồ hôi túa ra và tôi chỉ chực ngã xuống: đó là cách của ông để nói với tôi rằng vẫn còn những điều để học hỏi , để hoàn thiện. Sau đó, nếu như ông thấy hài lòng với tiến bộ của tôi , thì ông thường bày tỏ chỉ bằng một từ :” Tốt!”. Từ đó là lời khen ngợi cao nhất của ông cho đến khi tôi được nghe nó nhiều lần. Tuy nhiên , tôi chưa bao giờ dám yêu cầu ông dạy một bài quyền mới.
Nhưng sau khi các buổi tập kết thúc, thường là vào thời khắc buổi sáng, ông lại trở thành một người thày khác. Lúc đó , ông có thể giảng lý thuyết về tinh hoa của karate hoặc, giống như một người cha hiền, hỏi tôi về cuộc sống của một giáo viên. Khi màn đêm sắp tan, tôi lại cầm ngọn đèn của mình và đi về nhà, và tôi biết rằng chuyến đi của tôi kết thúc với những con mắt nghi ngờ của những người hàng xóm.
Tôi cũng không thể không nhắc đến một người bạn tốt của ông Azato, một người cũng sinh ra trong một gia đình thuộc tầng lớp shizoku của Okinawa và cũng am tường karate như bản thân ông Azato.
Đôi khi , cùng một lúc , tôi tập luyện dưới sự chỉ dẫn của cả hai sư phụ, Azato và Itosu. Vào những dịp này, tôi thường chăm chú lắng nghe những cuộc trao đổi giữa hai người, qua đó học hỏi được rất nhiều về những khía cạnh tinh thần cũng như thể chất của karate.
Nếu không có hai người thày lớn như thế thì ngày nay tôi có thể đã trở thành một người hoàn toàn khác. Tôi không thể bày tỏ hết lòng biết ơn của mình đối với họ, những người dẫn dắt tôi trên con đường đã mang lại cho tôi một niềm vui lớn trong cuộc đời kéo dài 8 thập kỷ.

Funakoshi Gichin

Người dịch: Anh Vu Nguyen

KARATE DO – LỐI SỐNG CỦA TÔI GINCHIN FUNAKOSHI

LỜI NÓI ĐẦU

Gần 4 thập kỷ trước tôi đã bắt đầu điều mà giờ đây tôi nhận ra là một chương trình đầy tham vọng: giới thiệu với quảng đại quần chúng Nhật Bản một nghệ thuật chiến đấu phức tạp của Okinawa, cũng là một môn thể thao , được gọi là Karate-do , Không Thủ Đạo ( The Way of Karate). Bốn mươi năm đó là những năm sôi động , và con đường mà tôi tự chọn cho bản thân hóa ra không hề dễ dàng. Giờ đây, nhìn lại, tôi kinh ngạc trước những gì đã đạt được trong tham vọng này , cho dù những thành công trên con đường của tôi khá khiêm tốn.



Karate-do giờ đây đã giành được vị trí của mình trên thế giới như là một môn thể thao quốc tế, nhờ vào nỗ lực từ các bậc thầy của tôi , từ các bạn đồng môn của tôi, từ những người bạn và học trò của tôi, những người đã tận tụy cống hiến cả thời gian cũng như nỗ lực để hoàn thiện nghệ thuật tự vệ, khiến nó có được tình trạng hoàn hảo như hiện tại.



Còn với vai trò cá nhân , tôi cảm thấy mình chỉ là một người giới thiệu – một M.C , có thể nói như vậy, một người may mắn có cả thời gian lẫn cơ hội để xuất hiện vào đúng thời điểm. Không phải là quá lời khi nói rằng gần như toàn bộ 90 năm trong cuộc đời tôi đã được dành cho Karate-do. Tôi đã là một trẻ sơ sinh ốm yếu và là một bé trai gày gò, và vì thế , khi còn nhỏ tôi được gợi ý là để vượt qua được những thiệt thòi đó thì tôi nên học Karate. Tôi đã làm điều đó, nhưng lúc đầu chẳng mấy hứng thú. Tuy nhiên , trong những năm cuối của mình ở trường tiểu học, sau khi sức khỏe bản thân được cải thiện đáng kể, hứng thú của tôi với Katare bắt đầu lớn dần. Tôi nhanh chóng nhận ra rằng Karate đã chinh phục tôi. Để có thể nắm vững Karate , tôi cống hiến toàn bộ tinh thần và thể chất , con tim và linh hồn. Tôi đã từng là một đứa trẻ ốm yếu , ngờ nghệch, khép kín. Khi trưởng thành , tôi cảm thấy mình mạnh mẽ, đầy sức sống và linh hoạt.
15250669_1299344926774054_3574504396893243652_o



Khi nhìn lại 90 năm trong cuộc đời mình- từ tuổi thơ , đến tuổi niên thiếu, đến tuổi trưởng thành , và đến ( ở đây sử dụng một cách diễn đạt mà tôi không hề thích ) tuổi già, tôi nhận ra rằng nhờ sự tận tụy của mình đối với Karate-do mà tôi chưa một lần nào phải đến gặp bác sỹ. Trong đời mình , tôi chưa bao giờ uống thuốc : không viên thuốc nào, không rượu thuốc, thậm chí không một mũi thuốc tiêm nào. Trong mấy năm gần đây bạn bè bảo tôi là bất tử, đó là một câu nói đùa mà tôi chỉ có thể đáp lại một cách nghiêm túc và đơn giản rằng : cơ thể của tôi đã được tập luyện tốt và nó đã vượt qua mọi sự ốm yếu , mọi bệnh tật.



Theo tôi nghĩ thì có 3 loại bệnh tật ảnh hưởng đến con người : những căn bệnh gây sốt, những trục trặc của hệ tiêu hóa và những chấn thương thể chất. Gần như hầu hết nguyên nhân của bệnh tật nằm ở lối sống thiếu lành mạnh, những thói quen xấu và sự lưu thông máu không tốt. Nếu một người đang sốt nhẹ tập luyện Karate cho đến khi mồ hôi đổ ra trên thân thể anh ta thì anh ta sẽ nhanh chóng nhận ra nhiệt độ cơ thể mình trở lại bình thường, và như thế bệnh của anh ta đã được chữa khỏi. Nếu một người gặp trục trặc về tiêu hóa cũng làm tương tự thì nó sẽ khiến máu huyết anh ta lưu thông tốt hơn và qua đó giảm thiểu những điều khó chịu. Tất nhiên , chấn thương thể chất là một vấn đề khác, nhưng nhiều chấn thương có thể tránh được nếu tập luyện với sự thận trọng đúng mức.



Karate-do không chỉ đơn thuần là một môn thể thao dạy cách đấm và đá, nó còn giúp ngăn ngừa bệnh tật. Chỉ mới nhận được sự công nhận quốc tế rộng rãi gần đây nhưng đây là một sự phổ biến mà các bậc thầy Karate cần phải nâng cao và sử dụng một cách cẩn trọng. Tôi thật hân hạnh được chứng kiến niềm đam mê của những thanh niên , nam và nữ, thậm chí là cả trẻ em , đã đến với môn thể thao này, không chỉ trên đất nước tôi mà còn ở khắp nơi trên thế giới. Rõ ràng đó là một trong những lý do khiến tờ Sangyo Keizai Shimbun ( Báo Thương Mại và Công Nghiệp ) đề nghị tôi viết về Karate-do. Thoạt đầu , tôi trả lời họ rằng tôi chỉ là một ông già và là một người bình thường , cũng chẳng có gì để nói. Mặc dù vậy , đúng là tôi đã cống hiền hầu như gần trọn đời mình cho Karate-do, vì thế cuối cùng tôi đã chấp thuận lời đề nghị của tờ báo, với điều kiện là các biên tập viên phải cho phép tôi viết theo kiểu tự truyện.



Cùng lúc đó , khi chuẩn bị làm việc này, tôi cảm thấy khá là lúng túng, vì vậy tôi cũng phải xin các độc giả của mình bỏ qua nếu như tôi có những lời thiếu thích hợp. Tôi mong độc giả coi cuốn sách của tôi cũng như là những lời gượng gạo của một ông lão rất già. Về phần mình , tôi sẽ cố gắng khuấy động những khúc xương già của bản thân , và với sự hỗ trợ của độc giả, tập trung năng lượng của mình vào việc khám phá những quy luật của trời đất , vì lợi ích của quốc gia và tương lai của các thế hệ sau. Để theo đuổi mong muốn đó , tôi xin có được sự ủng hộ hết lòng và sự cộng tác của độc giả. Tôi cũng xin bày tỏ sự biết ơn của mình đối với Hiroshi Irakata của tờ Weekly Sankei Magazine về sự hỗ trợ biên tập của anh , và với Toyohiko Nishimura , cũng của tạp chí trên , về thiết kế mỹ thuật cho cuốn sách ( bản tiếng Nhật).



GINCHIN FUNAKOSHI
Tokyo September 1956



Người dịch: Anh Vu Nguyen

Judo – Rio 2016: Tượng đài Kosovo và ngày của Ý

Trước ngày khai cuộc, nếu có ai đó nói ở ngày thi đấu thứ 2 môn judo ở Olympic, Ý sẽ giật 1 HCV và 1 HCB để tạm dẫn đầu toàn đoàn, mình sẽ nghĩ người đó nói chơi cho vui hoặc “bất bình thường”. Ở những hạng cân với hàng loạt tên tuổi đình đám như Masashi Ebinuma của Nhật Bản, đội tuyển Ý với những cái tên như Fabio Basile, Odette Giuffrida quá xa lạ. Vậy mà chính những võ sĩ xa lạ ấy đã làm nên chuyện.

Cũng ở ngày thi đấu thứ 2, đất nước Kosovo non trẻ đã có nhà vô địch Olympic đầu tiên trong lịch sử. Với chức vô địch này, Majlinda Kelmendi đã thật sự trở thành một tượng đài của Judo thế giới, với 1 HCV Olympic và 2 HCV giải vô địch thế giới.

**
Nói về tượng đài của hạng cân -52 kg, bạn sẽ thấy những gì Kelmendi (25 tuổi) làm được là điều kỳ diệu. Đất nước chỉ 1,8 triệu dân này trải qua một thời gian dài chìm trong xung đột, bất ổn và khi tuyên bố độc lập vào năm 2008 thì vẫn bị nhiều quốc gia và tổ chức không công nhận, bao gồm Ủy ban Olympic quốc tế (IOC) và Liên đoàn Judo quốc tế (IJF). Chính vì vậy, Kelmendi giành chức vô địch trẻ thế giới năm 2009 và thi đấu ở Olympic London 2012 dưới màu áo của Albania… Các giải đấu quốc tế khác thì VĐV này đấu cho Albania hoặc phải để chung chung là IJF.

Kelmendi kể với báo Le Monde: “Bạn sẽ cảm thấy thật sự thiệt thòi so với những VĐV khác khi họ được thi đấu vì màu cờ sắc áo của mình. Còn tôi thì đến hết năm 2012 vẫn không có được sự tự hào đó”. Và Kelmendi quyết tâm phải làm thay đổi tất cả bằng kết quả thi đấu ngày càng thuyết phục của mình.

Giải vô địch thế giới năm 2013 ở Rio de Janeiro (Brazil), lần đầu tiên trên lưng áo của Kelmendi là chữ KOS. Được chính thức thi đấu cho Kosovo, bạn giành luôn chức vô địch hạng cân -52 kg. Đó cũng là lần đầu tiên báo chí thế giới nói về Kosovo không phải với chủ đề chiến tranh, loạn lạc hay khủng hoảng mà vì một thành tích thể thao. Từ cột mốc Rio, Kelmendi chính thức khẳng định được tên tuổi của mình.

Bạn nhận được hàng loạt lời mời gọi nhập tịch đến từ nhiều nước như Thổ Nhĩ Kỳ, với lương tháng 7.000 euro, một con số rất đáng kể nếu biết ở Kosovo, lương trung bình là 240 euro/tháng và 50% lao động trẻ hiện bị thất nghiệp, theo Le Monde. Nhưng Kelmendi không từ bỏ đất nước của mình. Chính phủ Kosovo, với nhiều nỗ lực cũng đã cấp cho bạn một khoản lương 1.500 euro/tháng. Năm 2014, Kelmendi vô địch thế giới lần thứ 2 liên tiếp tại giải tổ chức ở Nga. Khi bạn trở về, Tổng thống Kosovo Atifete Jahjaga ra tận sân bay Pristina để đón. 1,8 triệu dân Kosovo ăn mừng. Và quan trọng hơn, với hàng loạt thành tích cực kỳ ấn tượng của Kelmendi, tháng 12.2014, trong cuộc họp ở Monaco, Ủy ban Olympic thế giới chính thức công nhận Kosovo là thành viên thứ 205. Có lẽ đây mới là chiến thắng rực rỡ nhất của Kelmendi. Người đã giúp Kosovo được quyền tham gia lễ khai mạc tại Olympic Rio cũng là người cầm cờ dẫn đầu đoàn diễn hành trong sân vận động.

Về judo, trong 3 năm qua, Kelmendi chỉ thua 1 trận duy nhất trong 1 giải không quá quan trọng, còn lại, hễ đấu giải nào là vô địch giải đó. Bạn để lỡ chức vô địch thế giới thứ 3 liên tiếp khi không thi đấu tại Giải ở Kazakhstan vào năm 2015 vì bị chấn thương. Ở ngoài rất đằm tính nhưng trên sàn đấu, Kelmendi là một chiến binh thật sự, lối đánh không hoa mỹ nhưng đầy uy lực và rất chiến thuật. Tại Rio, ngoài trận đầu tiên thắng Ippon bằng Uchi Mata trước đối thủ người Thụy Sĩ, những trận còn lại, Kelmendi giành chiến thắng rất sít sao nhưng cũng rất “chắc”. Ở bán kết gặp VĐV Nhật Bản Misato Nakamura là một ví dụ. Nakamura bị phạt 1 shido ở đầu trận và Kelmendi đã đánh rất “chiến thuật” để điểm phạt đó trở thành điểm quyết định của trận đấu. Có thể ở Rio, Kelmendi không chiến thắng liên tục bằng những pha ippon đẹp mắt nhưng thắng vẫn là thắng, bạn vẫn xứng đáng là nhà vô địch và Kosovo có quyền tự hào về chiếc HCV Olympic đầu tiên trong lịch sử.

**
Ngày 7.8 là “ngày không tưởng” của judo Ý. Điều gì đã làm nên “phép lạ” ở ngày thi đấu thứ 2 khi đấu 2 hạng cân, nước này vào chung kết cả 2 và giành 1 chức vô địch? Đặc biệt khi từ năm 2011 cho tới gần đây, thành tích của judo Ý tại đấu trường quốc tế rất mờ nhạt. Một điểm cần chú ý nữa là cả 2 VĐV của xứ sở hình chiếc giày đều còn rất trẻ, mới 21 tuổi. Lời giải chính là HLV Kyoshi Murakami và kế hoạch 10 năm của ông. Vị võ sư 65 tuổi này xuất thân từ Đại học Tenri, từng được gửi tới Pháp vào thập niên 1970 để hỗ trợ phát triển judo. Ông ở lại đây trong khoảng 20 năm và trở lại Nhật vào năm 1992. HLV Murakami từng là Tổng thư ký Liên đoàn Judo Nhật trong nhiều năm và nổi tiếng là một “kỹ thuật gia” hàng đầu. Sau một thời gian dài chỉ làm công tác hành chính, đầu năm 2015, ông khoác lại võ phục để quay lại việc huấn luyện khi được Liên đoàn Judo Ý mời làm Giám đốc kỹ thuật.

HLV Murakami yêu cầu cấp ngân sách để ông lập một đội riêng, tách biệt với đội tuyển quốc gia, chỉ gồm 7 VĐV rất trẻ có thành tích tốt tại các giải trẻ thế giới và châu Âu. Vị võ sư trực tiếp huấn luyện đội này, có thể nói nôm na là “đội tuyển Murakami Ý”. Nguyên tắc huấn luyện của võ sư Murakami: ưu tiên củng cố nền tảng kỹ thuật, không nhất thiết phải tham dự quá nhiều giải đấu. Thấy Elios Manzi (-60 kg) còn “non” quá, cứ hay bị chấn thương khi thi đấu, ông tách cậu ra 1 năm, hầu như không cho tham gia giải nào, thay vào đó, ông cho tập luyện riêng để tăng cường kỹ thuật, thể lực và đưa sang Nhật tập huấn. Lần đầu tiên thi đấu quốc tế sau thời gian “ở ẩn”, Manzi đã giành huy chương đồng tại giải vô địch châu Âu 2016 tổ chức ở Nga.

Trước khi Rio 2016 diễn ra, HLV Murakami vẫn tỏ ra rất thực tế khi trả lời tạp chí L’Esprit du Judo: “Tại Olympic ở Brazil, chương trình huấn luyện của tôi chỉ mới ở giai đoạn đầu, còn quá sớm để có thể trông đợi được điều gì. Để thật sự thiết lập một hệ thống vận hành hiệu quả, cần ít nhất 10. Tầm ngắm của đội trẻ đầu tiên mà tôi đang xây dựng là Olympic Tokyo 2020”.

Vậy mà nhóm “Murakami 7” đã làm nên chuyện trong ngày thi đấu thứ 2: 1 HCV, 1 HCB, ngoài sức tưởng tượng! Á quân hạng cân -52 kg Odette Giuffrida đã thi đấu rất bản lĩnh, vượt qua nhiều đối thủ mạnh của Romania, Trung Quốc và chỉ chịu dừng bước trước nhà vô địch người Kosovo. HCV hạng cân -66 kg Fabio Basile với đòn chân cực kỳ hiệu quả đã đi một lèo tới trận chung kết và thắng ippon đương kim vô địch thế giới An Baul của Hàn Quốc trong một pha tấn công bằng Ashi Guruma và chuyển sang Osoto Gari. Chiến thắng khi trận đấu diễn ra chưa được 1 phút rưỡi, Basile ngỡ ngàng mất một lúc mới có thể tin rằng đó là sự thật, bạn đã trở thành nhà vô địch Olympic. Basile ngỡ ngàng cũng phải, bạn đã giành chiếc vé đến Rio vào giờ chót từ tay một đàn anh ở đội tuyển quốc gia Ý sau khi thi đấu rất tốt tại giải Grand Prix tổ chức trước ngày kết sổ danh sách vận động viên dự Olympic. Ban huấn luyện của đội tuyển Ý đã có sự lựa chọn đúng. Nhóm Murakami 7 sắp tới sẽ được bổ sung thành viên và nhìn những gì vừa diễn ra ở Rio thì Ý chắc chắn sẽ là một “thế lực” đáng gờm ở Tokyo 2020.

**
Quê hương của judo và nước chủ nhà tiếp tục có những kết quả không tốt ở ngày thi đấu thứ 2. Hiện bảng thành tích của judo Brazil vẫn bỏ trống. Còn Nhật Bản, sau 2 ngày thi đấu với 4 hạng cân, họ giành… 4 huy chương đồng. Đây là một thành tích không tệ với bất kỳ nước nào nhưng với Nhật thì rất đáng thất vọng, nhất là khi cả Ebinuma lẫn Nakamura đều có trong tay 3 chức vô địch thế giới. Hàn Quốc cũng có một ngày không như ý khi niềm hy vọng vàng An Baul thua ở chung kết. Còn 5 ngày thi đấu với 10 hạng cân, cuộc đua chắc chắn sẽ rất gay cấn.

**
Tới ngày thứ 2 của giải, bạn Mí thiệt tình là chịu hết nổi vụ bản quyền của Olympic. Kênh duy nhất ở VN có bản quyền có chiếu trực tuyến các môn ở thế vận hội là Yan thì sau ngày đầu tiên phát judo rất ngon lành, ở ngày thi đấu hôm qua, chỉ chiếu vòng ngoài (phần 1 của ngày đấu). Phần thứ 2, cũng là phần quan trọng nhất với các trận tranh đồng, bán kết, chung kết thì kênh này trở chứng hổng chịu chiếu. Làm tui phải chạy tới chạy lui trên FB, coi ké clip ở trang này, trang nọ, rốt cuộc là được coi một lô trận đấu bán kết, chung kết với phần bình luận bằng tiếng Ý và tiếng… Mông Cổ.

 

Nguồn: FB Nguyễn Ngọc Lan Chi

Đai đen (Shodan): Một khởi đầu mới

Trước tiên, xin chúc mừng những ai vừa đạt được đẳng cấp đai đen (Shodan) và xin chào mừng các bạn đến với 1 giai đoạn hoàn toàn mới trên con đường rèn luyện và phát triển bản thân.

Đó chắc chắn là 1 cảm giác rất tuyệt vời khi bạn được công nhận là 1 đai đen trong bất kỳ môn võ nào. Bởi lẽ trong 1000 người tham gia tập luyện võ thuật thì có chưa tới 1% số người thực sự đạt được cấp độ đó. Bạn là số ít cực kỳ hiếm hoi trên hành tinh này.

Nhớ lại những ngày đầu tiên, vì lý do nào đó, bạn đã quyết định bước chân vào võ đường, dấn thân vào con đường đầy chông gai. Bạn đã đổ mồ hôi, sôi nước mắt, đã bỏ ra biết bao nhiêu giờ rèn luyện trong 4,5 năm, thậm chí là 6-7 hay 10 năm và giờ bạn hoàn toàn có thể ngẩng cao đầu và tự hào nhìn lại con đường mình đã đi qua.

black-belt-is-a-state-of-mind

 

Khi mới bắt đầu tập luyện, tất cả chúng ta đều coi Đai đen là 1 cái đích để hướng đến. Và giờ khi bạn đã được cái đích đó, hãy coi đó như là 1 vạch xuất phát mới. Chắc hẳn thầy của bạn cũng đã từng nói với bạn nhiều lần, đạt được đẳng cấp Đai đen (Shodan) chỉ như là bạn đã hoàn thành xong quá trình học việc. Hay chứng nhận đai đen giống như Bằng tốt nghiệp đại học của bạn. Bạn đã được học và luyện tập các kỹ năng chuyên môn, đã hình thành được thói quen tập luyện tốt. Giờ đây đã đến lúc bạn phải đưa những kiến thức đã học vào thực hành và sử dụng những kiến thức đó để đưa trình độ của bạn lên 1 tầm cao mới.

Với thái độ khiêm nhường và tâm hồn cới mở, bạn giờ đã được trang bị để bước sang 1 hành trình mới ở cấp độ cao hơn. Bạn phải luôn duy trì sự tập trung vào việc tiếp tục cải thiện bản thân, cả ở trong và ngoài võ đường. Hãy nhìn mọi thứ bạn đang làm bằng con mắt tươi mới. Đừng rơi vào cái bẫy “Cái này tao biết rồi”, bởi lẽ nếu bạn để bản ngã của mình làm ảnh hưởng thì bạn sẽ ko thể nào tiến bộ mà mãi mãi trì trệ.

cropped-10456306_461204447315614_1067061701_n.jpg

 

Điều quan trọng nhất với bạn bây giờ là hãy đặt ra những mục tiêu mới. Một trong những lý do mà phần lớn nhiều người khi đạt được đến cấp độ Đai đen rồi thì họ bỏ tập là bởi vì họ ngừng đặt ra những mục tiêu mới. Họ coi Karate là cái đích cuối cùng và do đó, khi họ đến đích, họ quyết định nghỉ ngơi.

Cách tốt nhất để luôn có động lực đi tiếp đó là đặt ra những cái đích mới, hãy coi Đai đen là sự bắt đầu  cho hành trình chinh phục Karate. Bởi lẽ hạnh phúc ko phải là đích đến mà chính là con đường.

Chúc bạn luôn tìm được niềm vui trên The way of Empty Hand.

Karate Baka

(Xin hãy ghi rõ nguồn khi chia sẻ bất kỳ bài viết nào trên Weblog và Page của Đai Đen Việt Nam. Xin cảm ơn)